21/10 Nguyễn Thiện Thuật, P2 Quận 3

0964.39.59.79

Chỉnh cười lộ nướu, hở lợi

Trước và sau khi điều trị:

Cười lộ nướu là yếu tố hàng đầu gây mất thẩm mỹ và tạo tâm lý mất tự tin trong giao tiếp xã hội. Cười lộ nướu thường đi với tình trạng hô răng/ hàm.


Cười lộ nướu hở lợi có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau. Do đó, cần phải chẩn đoán chính xác các nguyên nhân gây cười lộ nướu cho từng trường hợp và có giải pháp kỹ thuật thích hợp mới có thể điều trị triệt để được tình trạng cười lô nướu, mang lại sự tự tin trong giao tiếp cho bệnh nhân.

Chỉnh răng lệch lạc, chen chúc

Trước và sau khi điều trị:

Răng chen chúc lệch lạc rất phổ biến và thường đi kèm với tình trạng bị hô răng hay bị móm. Răng chen chúc lệch lạc có thể là kết quả của sự bất hài hòa về kích thước răng - xương hàm (kích thước răng lớn + xương hàm nhỏ sẽ gây ra tình trạng chen chúc răng) hay là hậu quả của sự mất sớm răng sữa hay do vị trí mầm răng vĩnh viễn bị lệch chổ trong quá trình hình thành.


Ngoài vấn đề gây mất thẩm mỹ, răng chen chúc có thể gây khó khăn cho việc vệ sinh răng miệng, giắt thức ăn gây sâu răng, gây lắng đọng tích tụ màng bám vôi răng dẫn đến viêm nướu tụt nướu và các bệnh nha chu khác...


Can thiệp điều trị chỉnh răng chen chúc lệch lạc có thể thực hiện ở tất cả các độ tuổi. Tuy nhiên, nếu can thiệp sớm trong thời kì trẻ đang thay răng, chuyển tiếp từ bộ răng sữa sang bộ răng vĩnh viễn, sẽ đạt kết quả rất tốt và hạn chế đến hơn 80% trường hợp không cần phải nhổ răng khi điều trị.

Chỉnh móm

Trước và sau khi điều trị:

Móm là sai hình đặc trưng của người Châu Á, chiếm tỉ lệ khá cao khoảng 21% trong cộng đồng. Ngược lại ở người Châu Âu/ da trắng tỉ lệ này khoảng 5%.


Liên quan sai hình móm, nhiều nghiên cứu phả hệ cho thấy móm liên quan đến yếu tố gia đình rất chặt chẽ (bố mẹ, ông bà ... bị móm). Móm cũng có thể do sự tăng trưởng và phát triển bất hài hòa giữa các cấu trúc răng - sọ mặt và hình thành khá sớm. Tuy nhiên, móm biểu hiện rõ nhất khi trẻ bước vào tuổi dậy thì. Lúc này chúng ta thấy móm tăng lên một cách rất rõ rệt.


Phương pháp và kỹ thuật điều trị móm thay đổi tùy thuộc vào tình trạng móm như thế nào cũng như độ tuổi của trẻ. Tuy nhiên chúng tôi đặc biệt nhấn mạnh việc can thiệp chỉnh móm cho trẻ ở độ tuổi 6-7 tuổi sẽ mang lại kết quả rất khả quan.

Chỉnh răng hô

Trước và sau khi điều trị:

Hô răng là một sai hình thường gặp trong khám và điều trị chỉnh nha. Hô răng không những gây ra mất thẩm mỹ mà còn ảnh hưởng đến chức năng và sức khỏe của hệ thống nhai.


Hô răng có thể mang tính chất gia đình (như bố mẹ, ông bà... bị hô) hay mắc phải trong quá trình hình thành cung răng và tăng trưởng sọ mặt (do sự tăng trưởng và phát triển bất hài hòa giữa các cấu trúc này).


Bên cạnh đó, chúng tôi đặc biệt lưu ý ở những trẻ nhỏ đang độ tuổi tăng trưởng mắc phải những rối loạn chức năng nhai nuốt hay thói quen có hại như: Tật đẩy lưỡi, bặm môi, mút ngón tay, cắn móng tay...là những tác nhân gây hô răng khó điều trị mà việc đầu tiên là phải loại bỏ những thói quen xấu này.


Dưới góc độ chuyên môn, hô răng được phân thành nhiều loại và mỗi loại có kỹ thuật điều trị riêng. Có những trường hợp cần can thiệp điều trị sớm (7 tuổi), nhưng có trường hợp phải đợi đến độ tuổi dậy thì hoặc trễ hơn mới can thiệp điều trị. Do đó, điều quan trọng là bệnh nhân cần khám định kì ít nhất 1 lần/ năm để Bác sĩ phát hiện sớm và điều trị kịp thời (chúng tôi thường gặp tâm lý chung của các bậc Phụ huynh là đợi răng vĩnh viễn của trẻ mọc đầy đủ rồi mới đưa đi khám và điều trị - điều này làm mất đi của trẻ nhiều cơ hội tuyệt vời để điều chỉnh những lệch lạc răng này).

Kéo răng ngầm

Trước và sau khi điều trị:

Răng ngầm có thể do vị trí hay chiều hướng mầm răng vĩnh viễn bị sai lệch chổ trầm trọng, dẫn đến không thể tự mọc được. Răng ngầm cũng có thể do các dị vật gây cản trở sự mọc như: răng dư, nang răng, u răng...


Điều trị chỉnh kéo răng ngầm về đúng vị trí trên cung hàm là việc làm khó khăn và mất nhiều thời gian. Do đó cần phải chẩn đoán kĩ lưỡng tình trạng răng và lên phác đồ điều trị chi tiết cho từng trường hợp cụ thể.